Quy hoạch phát triển ngành năng lượng Việt Nam đến 2020, tầm nhìn 2025

Cập nhật lúc 17:21' 16/8/2010
Nguồn ảnh: Internet
"Phấn đấu đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; Nâng cao độ chính xác trong đánh giá các nguồn năng lượng sơ cấp; Mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới trong việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác các nguồn năng lượng bổ sung vào nguồn thiếu hụt của nước ta" – đó là nội dung xuyên suốt Chiến lược phát triển ngành năng lượng của Việt Nam đến 2020, tầm nhìn đến năm 2025
Năng lượng là một trong những ngành quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân và là động lực của quá trình phát triển đất nước. Với những cố gắng vượt bậc của ngành, nhu cầu năng lượng trong những năm qua phần nào đã được đáp ứng ổn định. Tuy nhiên, trong những năm tới, vấn đề thiếu hụt năng lượng khi các nguồn sơ cấp đã được khai thác gần hết là vấn đề đang được tính đến. Nhằm đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1855/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025".

Theo đó, đối với ngành điện, đây được cho là giai đoạn nhu cầu về điện có xu hướng tăng cao khi nước ta ngày càng mở rộng thị trường, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp chủ lực. Nhằm đáp ứng đủ nhu cầu điện cho nền kinh tế quốc dân, trong giai đoạn đến 2015, có xét triển vọng đến năm 2025, lượng điện sản xuất được tính theo 2 phương án. Với phương án cơ sở, đến năm 2015, lượng điện sản xuất dự kiến cần đạt khoảng trên 190 tỷ kWh, năm 2020 là trên 294 tỷ kWh và đến năm 2025 là trên 431 tỷ kWh. Còn theo phương án cao, đến năm 2015, lượng điện sản xuất sẽ ở mức trên 250 tỷ kWh; năm 2020 là trên 334 tỷ kWh và năm 2025 là gần 490 tỷ kWh. Xét về cơ cấu, các nguồn điện chủ yếu được khai thác và sản xuất là nhiệt điện than, thủy điện, nhiệt điện khí, điện hạt nhân, thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo, đồng thời vẫn phải nhập khẩu điện. Hơn nữa, để đáp ứng tốt cho cung ứng điện, việc phát triển lưới điện cũng được chú trọng phát triển. Theo ông Lê Tuấn Phong – Vụ phó Vụ Năng lượng – Bộ Công Thương: "Tổng vốn đầu tư ngành điện toàn giai đoạn 2006-2025 là 80 tỷ USD, trong đó nguồn điện là 52 tỷ USD và lưới điện là 28 tỷ USD".

Cũng được dự đoán sẽ có nhu cầu tăng cao trong giai đoạn này, những giải pháp cho ngành than cũng đã được đề ra mạnh mẽ nhằm đáp ứng đủ than cho nền kinh tế. Theo đó, với công tác thăm dò than, mục tiêu đề ra đến hết năm 2010 sẽ thăm dò, đánh giá xong phần tài nguyên dưới mức -300m của bể than Đông Bắc và thăm dò tỉ mỉ một phần bể than đồng bằng sông Hồng; năm 2015 sẽ thăm dò, đánh giá tài nguyên bể than đồng bằng sông Hồngvà tăng cường cường đầu tư cho công tác thăm dò khai thác than ở các nước Lào, Camphuchia, các nước châu Phi… Với công tác sản xuất than, đối với bể than Đông Bắc và các mỏ than khác, đến hết năm 2010, sản lượng than sạch sản xuất phải đạt mức 48-50 triệu tấn; đến năm 2015 đạt khoảng 60-65 triệu tấn; năm 2020 đạt khoảng 70-75 triệu tấn và đến năm 2025 đạt trên 80 triệu tấn. Riêng với bể than sông Hồng phấn đấu từ năm 2010 trở đi sẽ đầu tư phát triển khai thác trên cơ sở hoàn thành thử nghiệm một số dự án theo cả 2 công nghệ khí hóa than và khai thác hầm lò. Bên cạnh đó, do nhu cầu than tăng cao nên những năm tới, nước ta vẫn tiếp tục phải nhập khẩu than.

Riêng đối với ngành dầu khí, định hướng phát triển ngành là đầu tư phát triển bổ sung các mỏ dầu khí hiện đang khai thác và mở thêm các mỏ dầu khí mới như đầu tư phát triển các đường ống dẫn khí để cấp khí cho các nhà máy điện, hộ công nghiệp và xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống sử dụng khí tại Nam bộ và Đông Bắc bộ, đồng thời phát triển công nghệ chế biến dầu khí và hoàn thành đúng kế hoạch xây dựng các trung tâm lọc hóa dầu.
Với những định hướng đó, toàn ngành phấn đấu trong giai đoạn 2006-2010 sẽ khai thác được khoảng 25-30 triệu TOE/năm, trong đó dầu thô khai thác trong nước đạt 18-19 triệu tấn, nước ngoài đạt 0,2-1 triệu tấn, khí đốt đạt 8-10 tỷ m3; Trong giai đoạn 2011-2015 sẽ đạt 31-34 triệu TOE/năm, trong đó dầu thô khai thác trong nước đạt 16-18 triệu tấn, nước ngoài đạt 3,5-5,5 triệu tấn, khí đốt đạt 11-15 tỷ m3; Giai đoạn 2015-2025 sẽ đạt 34-35 triệu TOE/năm, trong đó dầu thô khai thác trong nước đạt 13-15 triệu tấn, nước ngoài đạt 3,5-5,5 triệu tấn, khí đốt đạt 15-16 tỷ m3.

Một trong những ngành năng lượng được đánh giá là đầy tiềm năng của nước ta là năng lượng mới và tái tạo đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đặc biệt là thủy điện nhỏ và cực nhỏ. Theo đó, tỷ lệ các nguồn năng lượng mới và tái tạo sẽ được tăng tỷ lệ lên khoảng 3% tổng năng lượng thương mại sơ cấp vào năm 2010, khoảng 5% vào năm 2020 và 11% vào năm 2050.

Với chiến lược phát triển ngành năng lượng như vậy, ông Phong khẳng định: "là đáp ứng đủ nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân"./.
(Nguồn: VEN)