Biến đổi khí hậu ở Đông Nam Á: Những vấn đề tồn tại

Cập nhật lúc 10:42' 17/1/2016
Pháp hỗ trợ Việt nam ứng phó BĐKH
Xét trên bình diện phát triển kinh tế, Đông Nam Á (ĐNA) là một trong những khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới. Sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong vài thập kỷ trở lại đây đã giúp cho một lượng lớn dân cư ở khu vực này thoát khỏi tình trạng đói nghèo. Những đặc điểm tự nhiên của các nước Đông Nam Á như có đường bờ biển dài, mật độ tập trung dân cư và các hoạt động kinh tế ven biển cao vừa là lợi thế cho phát triển kinh tế, đồng thời cũng chính là điểm yếu khiến cho các nước này chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu.
Bên cạnh những yếu tố ảnh hưởng thông thường thì tác động nặng nề gây ra do biến đổi khí hậu đang trở thành nguyên nhân chính cản trở nghiêm trọng nỗ lực giảm nghèo và tiến tới phát triển bền vững của khu vực này. Theo Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC 2007) thì trong vài thập kỷ qua, với mức tăng 0,1-0,3oC mỗi thập kỷ từ 1951-2000 đã khiến cho khí hậu ngày càng trở nên mất ổn định.
 
Xu hướng mưa thay đổi khiến cho lượng mưa giảm và mực nước biển dâng cao (khoảng 1-3mm/năm). Theo đó, tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan cũng ngày một gia tăng: các đợt sóng nóng ngày càng nhiều (tăng số ngày nóng và đêm ấm, giảm số ngày lạnh và đêm lạnh); sự gia tăng mạnh mẽ các trận mưa lớn cũng như số lượng các trận bão nhiệt đới khiến cho hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất xảy ra ở nhiều nơi, gây ra những thiệt hại lớn về tính mạng con người và tài sản.

Không những vậy, biến đổi khí hậu còn làm cho tình trạng khô hạn ngày càng trở nên trầm trọng hơn, cản trở các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đe dọa tới an ninh lương thực; gây cháy rừng và xuống cấp rừng; hủy hoại tài nguyên biển và ven biển, đồng thời cũng làm tăng các nguy cơ về sức khỏe (bùng phát các bệnh truyền nhiễm). Hạn hán còn làm giảm dòng chảy của nhiều con sông lớn và làm tăng áp lực về nước tại nhiều quốc gia ở ĐNA. Hạn hán cũng là nguyên nhân của mùa màng bị phá hoại, tình trạng thiếu nước sạch, nhất là vào những năm xảy ra hiện tượng El Nino.
 
Kịch bản biến đổi khí hậu ở ĐNA trong tương lai
 
Các chuyên gia dự báo vấn đề biến đổi khí hậu ở ĐNA sẽ tiếp tục tăng cường độ trong những thập kỷ tới. IPCC đã đưa ra một số kịch bản, và theo như kịch bản phát thải cao thì vào cuối thế kỷ này, nhiệt độ bề mặt trung bình của khu vực ĐNA được dự báo sẽ tăng thêm 3,77oC so với mức cơ sở của năm 1961-1990 và hệ quả là thời tiết sẽ trở nên khô hạn hơn trong vòng 2-3 thập kỷ tới.
 
Một số hậu quả dự báo trước mà IPCC đã đưa ra:
 
- Sự ấm lên toàn cầu sẽ làm cho mực nước biển trung bình vào năm 2100 cao thêm 59 cm so với mức cơ sở của năm 1980-1999, hay theo như dự báo gần đây nhất của các chuyên gia khí tượng thì mực nước thậm chí sẽ còn tăng cao hơn 1m khi tính tới cả sự tan chảy nhanh chóng của các dải băng và sông băng (The Guardian 2009).
 
- Sự suy giảm đáng kể năng suất ngũ cốc, dẫn tới đe dọa an ninh lương thực. Theo nghiên cứu của Murdiyarso (2000) dự báo sản lượng gạo của châu Á có thể giảm tới 3,8% tới năm 2100 dưới tác động tổng hợp của việc gia tăng sử dụng phân bón CO2, nắng nóng và thiếu nước.
 
- Gần 50% đa dạng sinh học của châu Á có thể bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu. Malcolm và nhóm nghiên cứu (2006) dự báo lượng CO2 tăng gấp đôi có thể dẫn tới sự tuyệt chủng của 133 đến 2835 loài thực vật trong vùng Inđônêxia - Mianma.
 
- Nguy cơ tử vong và dịch bệnh do biến đổi khí hậu (các bệnh đường ruột và suy dinh dưỡng) tại một số quốc gia ĐNA là cao nhất trên thế giới và được dự báo sẽ vẫn tiếp tục là nguy cơ cao cho tới năm 2030. Lũ lụt và nước biển dâng trong tương lai cũng sẽ góp phần làm cho chất lượng nước càng thêm suy giảm và làm tăng các bệnh dịch truyền nhiễm liên quan đến nước như bệnh ngoài da và bệnh đường ruột.
 
Trong một số nghiên cứu khác, mô hình đánh giá tổng hợp toàn cầu ( IAM) được Viện nghiên cứu Công nghệ Trái đất của Nhật Bản xây dựng đã được sử dụng, và đặc biệt chú trọng tới 4 nước (Inđônêxia, Philippin, Thái Lan và Việt Nam). Các kết quả với kịch bản phát thải cao cho thấy:
 
- Nhiệt độ trung bình năm của 4 nước này sẽ tăng thêm 4,8oC vào năm 2100 so với năm 1990, trong đó vùng phía Tây của ĐNA được dự báo sẽ nóng hơn vùng phía Đông. Những nỗ lực giảm thiểu toàn cầu nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức 550 ppm có thể làm giảm mức tăng nền nhiệt độ trung bình tại 4 nước xuống 2,3oC, và với mức 450 ppm – xuống 1,8oC vào năm 2100
 
- Inđônêxia, Thái Lan và Việt Nam được dự báo sẽ phải hứng chịu điều kiện thời tiết khô hơn trong vòng 2-3 thập kỷ tới, mặc dù xu hướng này được dự báo sẽ đảo ngược vào giữa thế kỷ, với lượng mưa năm 2100 chắc chắn sẽ cao hơn năm 1990.
 
- Cho tới cuối thế kỷ, mực nước biển trung bình toàn cầu được dự báo sẽ tăng thêm 70 cm so với năm 1990. Tuy vậy, với việc ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển trong khoảng 450 đến 550 ppm, mực nước biển trung bình toàn cầu năm 2100 dự báo sẽ tăng khoảng 40 cm so với năm 1990.
Kết quả mô hình cũng cho thấy biến đổi khí hậu được dự báo chắc chắn sẽ tác động mạnh đến các hoạt động kinh tế và các hoạt động sinh sống của con người tại 4 nước này trong những thập kỉ tới trên các phương diện cụ thể như:
 
- Tài nguyên nước: Sự ấm lên toàn cầu sẽ làm cho áp lực về nước trong những thập kỷ tới ở một số nơi trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan và Việt Nam nặng nề hơn. Dự báo, tới năm 2050, khoảng 3,9 triệu người ở Thái Lan và 8,4 triệu người ở Việt Nam sẽ phải chịu áp lực về nước.
 
- Nông nghiệp: Tới năm 2100, sản lượng lúa tại 4 nước được dự báo sẽ sụt giảm trung bình khoảng 50% so với năm 1990 nếu không có các hoạt động thích ứng và những cải thiện về kỹ thuật. Sự sụt giảm sản lượng lúa gạo sẽ từ khoảng 34% tại Inđônêxia, đến 75% ở Philippin, và được dự báo sẽ bắt đầu diễn ra từ năm 2020 ở hầu hết các nước.
 
- Lâm nghiệp: Sự thay đổi phân bổ quần xã sinh vật do mất những cánh rừng chất lượng cao được dự báo sẽ dẫn đến sự mất đa dạng sinh học. Một phần lớn các cánh rừng thường xanh nhiệt đới, rừng bán thay lá và rừng thay lá – tất cả có khả năng hấp thụ các bon tốt - được dự báo sẽ bị thay thế bởi đồng cỏ nhiệt đới và những vùng đất cây bụi chịu khô nhiệt đới – những loại đất không có hoặc có khả năng hấp thụ các bon thấp.
 
- Sức khỏe con người: Biến đổi khí hậu chắc chắn sẽ làm tăng số người chết vì các bệnh về đường tim mạch và đường hô hấp do nguyên nhân nắng nóng và các bệnh truyền nhiễm (bệnh sốt rét và sốt xuất huyết) tại 4 nước này trong những thập kỷ tới.
 
Cần phải hành động khẩn cấp
 
Các quốc gia ĐNA cần phải có những hành động kịp thời nhằm: một mặt thích ứng được với các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, mặt khác vẫn có thể đảm bảo hoàn thành các Mục tiêu Thiên niên kỷ và xóa đói giảm nghèo. Để hoàn thành được nhiệm vụ này thì việc giúp đỡ các cộng đồng dễ bị tổn thương, giúp họ thích ứng và chống chọi với những rủi ro mà biến đổi khí hậu mang lại là vô cùng cần thiết. Những người có thu nhập thấp thường là đối tượng dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu, vì họ có năng lực thích ứng hạn chế do thu nhập thấp và ít khả năng tiếp cận với hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ và giáo dục; bên cạnh đó đa số đều sống ở những vùng dễ bị tổn thương về địa lý, chịu ảnh hưởng nhiều bởi thiên tai, làm việc chủ yếu trong những lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào khí hậu như nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; và hầu như không có cơ hội để chuyển đổi nghề nghiệp.  
 
Mặc dù thích ứng là vấn đề ưu tiên hàng đầu của ĐNA trong ứng phó với biến đổi khí hậu, song khu vực này cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc góp sức vào những nỗ lực toàn cầu giảm thiểu khí nhà kính bằng cách tích cực theo đuổi một chiến lược tăng trưởng các bon thấp. Năm 2000, khu vực này đã đóng góp 12% tổng phát thải khí nhà kính toàn cầu, tương đương 5.187 triệu tấn các bon điôxít, tăng 27% so với năm 1990. Nếu tính trên đầu người, lượng phát thải của khu vực này cũng cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu, cho dù vẫn thấp hơn mức của các nước phát triển. Lĩnh vực chuyển đổi sử dụng đất và lâm nghiệp là nguồn phảt thải khí nhà kính lớn nhất trong khu vực vào năm 2000, đóng góp 75% vào tổng phát thải. Hai nguồn phát thải lớn khác là năng lượng với mức 15% và nông nghiệp 8%. Inđônêxia là nước phát thải khí nhà kính lớn nhất trong khu vực ĐNA, chủ yếu là từ lĩnh vực chuyển đổi sử dụng đất và lâm nghiệp.
(Nguồn: http://www.ncseif.gov.vn/)

Các tin đã đưa khác